NỀN TẢNG HỌC THUẬT DỰA TRÊN GIÁO DỤC NĂNG LỰC VÀ CẢM XÚC XÃ HỘI (SOCIAL & EMOTIONAL LEARNING)

Social & Emotional Learning (SEL) – Giáo Dục Năng Lực Cảm Xúc Xã Hội là chương trình giáo dục về lối sống, hành vi và năng lực trí tuệ cảm xúc được các học giả, các nhà giáo dục nghiên cứu trong hơn 20 năm qua và hiện được áp dụng rộng rãi tại Mỹ, Úc, Singapore, Anh và các nước Châu Âu.

Năm 1994, tổ chức CASEL (Collaborative for Academic, Social and Emotional Learning) đã được học giả Daniel Goleman (Tác giả của quyển sách Thông Minh Cảm Xúc) và các nhà giáo dục hàng đầu thành lập, tập trung vào nghiên cứu về mặt lý thuyết, áp dụng thực tế và đánh giá. Tổ chức này đã đưa ra năm nhóm năng lực cốt lõi của cảm xúc – xã hội như sau:

icon-01

NHẬN THỨC BẢN THÂN (SELF AWARENESS)

Nhận biết, chấp nhận và trân trọng những thế mạnh và cảm xúc của bản thân. Năng lực này giúp phát triển những kỹ năng đòi hỏi việc nhận biết tốt cảm xúc của mình cũng như những ảnh hưởng của cảm xúc đến hành vi, biết rõ thế mạnh, điểm yếu, tính cách đặc trưng và giá trị bản thân của mình làm nền tảng để có sự tự tin và lạc quan vững chắc.
icon-05

LÀM CHỦ BẢN THÂN (SELF MANAGEMENT)

Biết cách làm chủ cảm xúc, thời gian và sự phát triển của bản thân. Năng lực này giúp tạo nền tảng cho các kỹ năng quản lý thời gian, xác định mục tiêu cho bản thân và có kế hoạch, phương pháp, tạo động lực cho bản thân trong việc thực hiện mục tiêu; biết cách thể hiện cảm xúc phù hợp, làm chủ những suy nghĩ của mình một cách tích cực và quản lý được căng thẳng của bản thân.
icon-04

NHẬN THỨC XÃ HỘI (SOCIAL AWARENESS)

Hiểu góc nhìn khác nhau của những người xung quanh xuất phát từ sự đa dạng về phong tục, tập quán và văn hoá; hiểu được những chuẩn mực đạo đức xã hội và hành vi. Năng lực này là nền tảng quan trọng cho những kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu và đồng cảm với những người xung quanh, nhận biết thế mạnh, sự khác biệt, tính cách của những người xung quanh.
icon-08

LÀM CHỦ CÁC MỐI QUAN HỆ (RELATIONSHIP SKILLS)

Khả năng thiết lập được những mối quan hệ lành mạnh và bền vững với nhiều cá nhân và tính cách khác nhau. Năng lực này là nền tảng cho những kỹ năng giao tiếp, hợp tác, thương lượng, giải quyết mâu thuẫn một cách phù hợp, biết cách chia sẻ cũng như nhờ sự hỗ trợ từ những người xung quanh.
icon-02

RA QUYẾT ĐỊNH CÓ TRÁCH NHIỆM (RESPONSIBLE DECISION MAKING)

Biết cách sử dụng những năng lực tư duy của mình để có những lựa chọn có trách nhiệm về hành vi của mình dựa trên sự hiểu biết về những chuẩn mực đạo đức xã hội, sự an toàn và hữu ích cho cộng đồng. Năng lực này đòi hỏi sự rèn luyện về các kỹ năng tư duy độc lập, phân tích và giải quyết vấn đề.

HỆ THỐNG NĂNG LỰC CẦN THIẾT TRONG THẾ KỶ 21 – P21

Thế giới hiện nay đang được thay đổi rất nhiều bởi công nghệ, và sẽ thúc đẩy nhiều thay đổi trong công việc và nghề nghiệp trong thế kỷ 21, với những đòi hỏi về kỹ năng rất khác so với thời đại công nghiệp của thể kỷ 20. Hòa Kỳ, một quốc gia có nền khoa học công nghệ và giáo dục hàng đầu thế giới, cũng đã nhận thấy điều này. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 21, họ đã nhận ra rằng những gì chúng ta đang giáo dục học sinh trong nhà trường không đáp ứng được những nhu cầu của các tập đoàn hàng đầu, với quy mô hoạt động toàn cầu của Mỹ.

Năm 2002, Tổ chức Đối Tác Cho Giáo Dục Thế Kỷ 21 (Partnership for 21st century learning) đã được thành lập, với các thành viên sáng lập là các tập đoàn hàng đầu như Apple Computer, Cisco System, Microsoft, AOL Time Warner… và là đối tác của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ trong việc xác định những kỹ năng cần thiết trong thế kỷ 21 và khung khổ, mô hình để giảng dạy trong nhà trường.

Mô hình giáo dục kỹ năng thế kỷ 21 đã định rõ những kỹ năng cần thiết để giáo dục các em như sau:

– Những chủ đề trọng yếu của thế kỷ 21: Cần lồng ghép vào các chương trình giáo dục những chủ đề quan trọng mà mỗi các nhân nên có kiến thức và hiểu biết trong thế kỷ 21: Nhận thức toàn cầu, kinh tế, khởi nghiệp, môi trường.

  • Biết cách tiếp cận, sử dụng, quản lý và đánh giá thông tin.
  • Biết cách sử dụng và sản xuất những sản phẩm truyền thông đa phương tiện.
  • Biết cách sử dụng và áp dụng công nghệ một cách hữu ích trong học tập và cuộc sống.
  • Tư duy sáng tạo và đổi mới.
  • Tư duy phản biện và giải quyết vấn đề.
  • Kỹ năng giao tiếp.
  • Kỹ năng hợp tác.
  • Linh hoạt và thích ứng trong nghề nghiệp và cuộc sống.
  • Biết chủ động và tự định hướng.
  • Những kỹ năng xã hội và tương tác trong môi trương đa văn hóa.
  • Trách nhiệm và hiệu suất của bản thân.
  • Khả năng lãnh đạo.

Sau hơn một thập kỷ hình thành, ngày nay Mô hình giáo dục kỹ năng thế kỷ 21 này đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều tổ chức giáo dục và hệ thống giáo dục của Mỹ, mang tính định hướng cho việc phát triển những chương trình giúp các em học sinh được trang bị những kỹ năng cần thiết cho thế kỷ 21.

IAG hiểu rõ để có thể giáo dục các em sẵn sàng với thế giới các em sẽ lớn lên, chúng ta cần trang bị những kỹ năng thực sự cần thiết cho các em trong tương lai. Mô hình giáo dục kỹ năng thế kỷ 21 được IAG áp dụng làm nền tảng trong việc thiết kế tất cả các chương trình đào tạo, giúp các em luôn được rèn luyện và phát triển những kỹ năng cần thiết nhất, dù tham gia bất kỳ chương trình nào.

HỌC THUYẾT ĐA TRÍ THÔNG MINH

Học Thuyết Đa Trí Thông Minh (Theory of Multiple Intelligences – MI) là gì?


Lý Thuyết về Đa Trí Thông Minh là một quan điểm đối lập với quan điểm chỉ có một trí thông minh duy nhất, được đo lường đầy đủ bằng chỉ số IQ hoặc các bài kiểm tra câu trả lời ngắn khác. Thay vào đó, trên cơ sở bằng chứng từ các nguồn khác nhau, học thuyết tuyên bố rằng con người có một số năng lực trí tuệ tương đối riêng biệt. Các bài kiểm tra IQ đánh giá trí thông minh ngôn ngữ và logic-toán học, và đôi khi là trí thông minh về không gian, là một dự đoán hợp lý về những người có khả năng học tập tốt trong thế kỷ 20 (Lưu ý: Không còn phù hợp ở thế kỷ 21). Tuy nhiên, con người có một số năng lực trí tuệ đáng kể khác.

Trí thông minh có thể được xem tương tự với máy tính. Niềm tin vào một trí thông minh đặc biệt ngụ ý rằng con người sở hữu một máy tính đa năng duy nhất, có thể hoạt động tốt (IQ cao), trung bình (IQ bình thường) hoặc kém (IQ thấp). Lý thuyết đa trí thông minh ngụ ý rằng con người sở hữu một số máy tính tương đối độc lập; sức mạnh của một máy tính này không thể là thước đo sức mạnh (hoặc điểm yếu) của máy tính khác.

Học Thuyết Đa Trí Thông Minh Được Phát Triển Khi Nào & Như Thế Nào?

Howard Gardner đã phát triển lý thuyết MI vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980. Trong thời gian nghiên cứu, ông đã thu thập bằng chứng từ nhiều nguồn, nhiều lĩnh vực và tra cứu từ lịch sử. Ông trình bày lý thuyết này lần đầu tiên vào năm 1983, trong cuốn sách Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences (Phiên bản mới, 2011).

Gardner được trao học vị Giáo sư về Nhận Thức và Giáo Dục – John H. và Elisabeth A. Hobbs tại Harvard Graduate School of Education. Ông cũng giữ các vị trí như Giáo sư Tâm lý học tại Đại học Harvard và Giám đốc Cấp cao của Dự án Zero Harvard. Năm 2005 và 2008, ông được tạp chí Foreign Policy và Prospect bình chọn là một trong 100 trí thức có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Gần đây nhất, Gardner đã nhận được Giải thưởng Prince of Asturias năm 2011 về Khoa học xã hội. Gardner được mọi người biết đến như là cha đẻ của Học Thuyết Đa Trí Thông Minh.

 

Hai ý nghĩa giáo dục chính của Lý thuyết Đa Trí Thông Minh

Cá nhân hóa

Vì mỗi con người có những năng lực trí tuệ riêng biệt của riêng mình, chúng ta nên quan tâm đến điều đó khi giảng dạy, cố vấn hoặc nuôi dưỡng. Càng nhiều càng tốt, chúng ta nên dạy các cá nhân theo những cách mà họ có thể học được. Và chúng ta nên đánh giá họ theo cách cho phép họ thể hiện những gì họ đã hiểu và áp dụng kiến ​​thức và kỹ năng của họ trong những bối cảnh không quen thuộc.

Tính đa dạng

Các ý tưởng, khái niệm, lý thuyết, kỹ năng nên được dạy theo nhiều cách khác nhau. Cho dù một người đang giảng dạy nghệ thuật, khoa học, lịch sử hay toán học, các ý tưởng cụ thể nên được trình bày theo nhiều cách. Nếu các nhà giáo dục có thể trình bày các tác phẩm nghệ thuật của Michelangelo, hoặc Định lý Pythagore theo một số cách,họ sẽ đạt được hai mục tiêu quan trọng.

Các loại hình của trí thông minh:

Để một loại trí tuệ nào đó đủ tiêu chuẩn, được công nhận là trí thông minh, nó phải thỏa mãn tám “dấu hiệu” xác định của Howard Gardner. Sau khi nghiên cứu sâu rộng, Gardner đã xác định được tám trí thông minh riêng biệt.

Trí Thông Minh Không Gian (SPATIAL)

Khả năng khái niệm hóa và điều khiển các mảng không gian quy mô lớn (ví dụ: phi công máy bay, thủy thủ) hoặc nhiều dạng không gian cục bộ hơn (ví dụ: kiến trúc sư, người chơi cờ).

Trí Thông Minh Vận Động (BODILY-KINESTHETIC)

Khả năng sử dụng toàn bộ cơ thể của mình hoặc các bộ phận của cơ thể (như tay hoặc miệng) để giải quyết một vấn đề hoặc sáng tạo ra sản phẩm (ví dụ: vũ công).

Trí Thông Minh Âm Nhạc (MUSICAL)

Độ nhạy với nhịp điệu, cao độ, trường độ, âm sắc, giai điệu và âm sắc. Có thể được thừa hưởng khả năng chơi nhạc cụ, giọng hát hoặc sáng tác nhạc (ví dụ: chỉ huy âm nhạc).

Trí Thông Minh Logic - Toán Học (LOGICAL-MATHEMATICAL)

Năng lực khái niệm hóa các mối quan hệ lý luận giữa các hành động hoặc biểu tượng (ví dụ: nhà toán học, nhà khoa học). Nhà tâm lý học nổi tiếng Jean Piaget tin rằng ông đang nghiên cứu phạm vi trí tuệ, nhưng thực ra ông đang nghiên cứu trí thông minh logic-toán học.

Trí Thông Minh Tự Nhiên (NATURALISTIC)

Khả năng phân loại các chủng loại động thực vật trong thế giới tự nhiên, chẳng hạn như giữa thực vật này với thực vật khác, hoặc sự hình thành đám mây này và đám mây khác (ví dụ: nhà phân loại học). (Đôi khi được gọi là trí thông minh thiên nhiên.)

Trí Thông Minh Tương Tác Xã Hội (INTERPERSONAL)

Khả năng tương tác hiệu quả với những người khác. Nhạy cảm với tâm trạng, cảm xúc, tính khí và động cơ của người khác (ví dụ: người đàm phán). (Đôi khi được gọi là trí thông minh xã hội.)

Trí Thông Minh Ngôn Ngữ (LINGUISTIC)

Nhạy cảm với ý nghĩa của từ, thứ tự giữa các từ và âm thanh, nhịp điệu, sự suy nghĩ và độ dài của từ (ví dụ: nhà thơ).

Trí Thông Minh Nội Tâm (INTRAPERSONAL)

Sự nhạy cảm với cảm xúc, mục tiêu và sự lo lắng của một người cũng như khả năng lập kế hoạch và hành động dựa trên những đặc điểm của riêng bản thân. Trí thông minh nội tâm không dành riêng cho những nghề nghiệp cụ thể; đúng hơn, đó là mục tiêu của mọi cá nhân trong một xã hội hiện đại phức tạp, nơi mà người ta phải đưa ra các quyết định mang tính hệ quả cho chính mình.

Trí thông minh hiện sinh (EXISTENTIAL)

Gardner không muốn gọi loại trí thông minh này là trí thông minh tâm linh, nên đề xuất gọi là trí thông minh "hiện sinh", cũng được đề xuất sau năm 1999, liên quan tới các vấn đề cơ bản của cuộc sống.

LIFELONG LEARNING

Học tập trọn đời là gì?

Học tập trọn đời (Lifelong learning) là một thuật ngữ ra đời ở nửa cuối thế kỷ 20 và phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Học tập trọn đời theo như UNESCO định nghĩa, “là một quá trình theo đuổi tri thức một cách liên tục, tự nguyện và tự động viên nhằm đạt được mục tiêu cá nhân hay nghề nghiệp”. 

Với định nghĩa này, Học tập trọn đời khẳng định rằng việc học không chỉ giới hạn trong lớp hay trường học mà có thể có nhiều cách thức khác nhau, không kết thúc khi rời khỏi trường đại học mà là kéo dài đến khi không còn khả năng học, không phải do cơ chế nào áp xuống mà người học tự chủ động tìm kiếm những tri thức cần cho mình.

Bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu có nhu cầu cần trang bị một tri thức mới hoặc nâng cấp tri thức hiện có để phù hợp với nhu cầu mới thì ở đó xuất hiện sự học.  Ví dụ:

Tại IAG Academy, chúng tôi tin rằng Học tập trọn đời cùng Trí thông minh Cảm xúc sẽ là những năng lực cốt lõi để con có thể có một cuộc sống hạnh phúc và viên mãn.

Tại sao Học tập trọn đời lại quan trọng với tương lai của con?

Theo báo cáo Future of jobs của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2016, 65% học sinh tiểu học sẽ làm những công việc chưa bao giờ xuất hiện. Do đó, giáo dục truyền thống chắc chắn sẽ không đáp ứng được nhu cầu để cung cấp tri thức cho thế hệ này. Sự thay đổi sẽ đến quá nhanh, cả một hệ thống cồng kềnh chắc chắn sẽ dịch chuyển chậm hơn là một cá nhân với sự khao khát thích nghi.

Thêm vào đó, tuổi thọ trung bình ngày một nâng cao. Theo tính toán, đã có những đứa trẻ sống thọ 150 tuổi được sinh ra. Do đó, chúng sẽ có một cuộc đời lao động dài khoảng 100 năm. Số nghề nghiệp mà chúng làm trong đó chắc chắn sẽ đòi hỏi nhiều hơn những gì mà một trường đại học dạy được trong vòng 4-5 năm.

Học tập trọn đời trong bối cảnh này sẽ đóng vai trò cốt lõi để con có thể có được một sự nghiệp viên mãn và một tương lai đảm bảo. Học tập trọn đời giúp con trang bị tinh thần luôn sẵn sàng để thích nghi với thay đổi, sự tự tin để đối đầu với thách thức và thái độ cầu tiến để luôn hướng về phía trước.

Làm thế nào để khuyến khích con trở thành một người học tập trọn đời?

Có nhiều cách để có thể giúp con trở nên một người học tập trọn đời. Trong đó, có hai việc quan trọng nhất mà cha mẹ có thể làm cho con: giúp con có được niềm yêu thích với việc họcphương pháp học hiệu quả.

Khuyến khích con có Tư duy Phát triển – Growth Mindset

Để con có niềm yêu thích với việc học, người lớn hãy là tấm gương của việc học không ngừng. Những câu nói như “Cha chưa biết nhưng để cha kiếm thông tin rồi trả lời con nhé!”, “Nếu mình chưa biết thì mình có thể đi hỏi mà đúng không?” hay “Mình học được gì từ lần này nhỉ?” sẽ giúp con có tinh thần cởi mở với việc học. 

Thông qua chính các hoạt động hằng ngày, cha mẹ có thể làm gương để tự rút ra các bài học kinh nghiệm. Khi cha mẹ chân thành nhận lỗi và thể hiện thái độ cầu tiến thì cũng là lúc con có động lực làm điều tương tự. 

Chia sẻ cùng con những điều thú vị quanh mình

Việc cho con thấy những điều thú vị và hấp dẫn mà cha mẹ thu lượm được trong quá trình học hỏi hằng ngày có thể làm tăng sự hứng thú với việc học của con. Việc có một môi trường mà mọi người đều thích học, hăng say học là một nguồn động lực rất lớn để con có thể theo đuổi sự học của mình.

Cùng con học trong mỗi trải nghiệm

Cùng cha đóng tủ gỗ hay sửa đồ điện, cùng mẹ nấu ăn hay dọn nhà cũng có thể là những trải nghiệm để con học hỏi được rất nhiều. Một cô bé sau khi cùng cha hoàn thành một chiếc ghế gỗ sẽ tự tin hơn rất nhiều về bản thân. Hay một cậu bé sau khi nấu được bữa ăn cùng mẹ sẽ có sự thấu cảm với những người phụ nữ trong gia đình. Đó đều là những điều ý nghĩa mà con có thể học được trong những điều nhỏ nhất.

Văn hóa đọc của cả gia đình

Cha mẹ có đọc thì con mới yêu tri thức. Cha mẹ muốn con đọc nhưng bản thân lại quá bận để đọc thì khó có thể trách con không yêu những trang sách. IAG Academy khuyến khích cả nhà hãy có những khung giờ vào cuối tuần cùng đọc sách với nhau. Tủ sách trong nhà cũng nên đặt ở nơi dễ thấy, sắp xếp gọn gàng và thường xuyên được sử dụng cũng là một cách để khuyến khích con đọc nhiều hơn. 

Hỗ trợ con với phương pháp học hiệu quả

Cha mẹ có thể dành thời gian lắng nghe những chia sẻ của con về việc học. Từ đó, cha mẹ có thể hiểu được con đang vướng mắc chỗ nào, ở đâu con cần hỗ trợ. Có lẽ cha mẹ sẽ khó để có thể hỗ trợ con về kiến thức nhưng cách tư duy, ôn tập và hấp thụ kiến thức mới sẽ là điều mà cha mẹ có thể làm được.

Trong hành trình cùng con trở thành một người học trọn đời hạnh phúc, IAG Academy rất sẵn lòng đồng hành cùng cả gia đình để cho con thấy được niềm vui học tập thông qua chính những gì thực tế, gần gũi nhất. Song song với đó, IAG Academy cũng trang bị cho các con những phương pháp học tập tiên tiến: C.A.P.E và GAMING giúp các con biến việc học trở nên hiệu quả và nhẹ nhàng.